Sản Phẩm Trong Giỏ Hàng
Tổng Hóa Đơn: VNĐ
3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với chủ xe mô tô, xe gắn máy; các loại xe tương tự mô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:
a) Tự ý đục lại số khung, số máy;
b) Tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo hồ sơ đăng ký xe;
c) Tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước của xe;
d) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được cấp lại biển số, Giấy đăng ký xe;
đ) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật điều khiển xe tham gia giao thông;
e) Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định;
g) Không mua hoặc nộp phí cho phương tiện khi tham gia giao thông theo quy định.
Theo Đại tá Thắng, không chỉ đến bây giờ mà trước khi Thông tư 36, 37 được ban hành, Phòng CSGT liên tục đề nghị các chủ phương tiện sau khi mua, bán trong vòng 30 ngày phải đến cơ quan đăng ký, quản lý phương tiện làm thủ tục sang tên, chuyển quyền sở hữu. Bán xe xong, chủ phương tiện cũng phải có thông báo gửi đến cơ quan đăng ký, quản lý phương tiện để có biện pháp phối hợp, hướng dẫn chủ mới làm thủ tục sang tên.
Trường hợp phương tiện được mua bán qua nhiều chủ, thì người đang sử dụng phải có trách nhiệm đến các cơ quan đăng ký làm thủ tục đăng ký lại, chuyển quyền sở hữu và phải chịu mức xử phạt theo quy định.
Nếu người bị kiểm tra nói rằng "xe tôi mượn của bạn" thì sẽ xử lý thế nào?
- Cơ quan chức năng sẽ phải xác minh việc này. Chẳng hạn, yêu cầu người điều khiển phương tiện gọi điện thoại cho chủ xe đến giải quyết. Nếu chủ xe không đến được, có thể kiểm tra qua điện thoại dựa vào thông tin trên đăng ký xe. Bởi lẽ những người cho mượn xe thường là người thân, bạn bè, không thể nói rằng không biết họ ở đâu, điện thoại như thế nào?
Vậy trong trường hợp người bị kiểm tra nói rằng xe họ mượn của bạn nhưng vào thời điểm đó, họ chưa có điều kiện để chứng minh...?
- Những trường hợp như vậy quả thật không dễ xử lý. Việc xử phạt hành vi “không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định” vẫn còn rất nhiều khó khăn.
Trước hết, cần phải phân biệt rõ việc “đi xe không chính chủ” không đồng nghĩa với việc “không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định”. Việc đi xe không chính chủ là chuyện bình thường và diễn ra tương đối phổ biến ở VN cũng như các nước trên thế giới, ví như: Vợ đi xe mang tên chồng, con đi xe mang tên bố, mẹ, anh, chị, em, bạn bè đi xe lẫn của nhau...
Việc đi xe không chính chủ không phải là hành vi vi phạm hành chính, nên không ai có thể bị xử phạt vì hành vi này. Hành vi bị xử phạt được quy định ở đây chỉ áp dụng đối với việc chuyển dịch quyền sở hữu như mua bán, tặng, cho, thừa kế mà không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định của pháp luật.
Quy định xử phạt đối với việc không chuyển quyền sở hữu không phải là quy định mới, mà đã được quy định từ rất lâu. Lần này, Nghị định 71/2012/NĐ-CP chỉ sửa đổi theo hướng tăng mức phạt đối với hành vi này.
Vậy, nếu thực hiện nghị định này, người sử dụng xe của người thân phải đem theo giấy tờ để chứng minh đó là người có quan hệ ruột thịt. Người dân kêu bị gây phiền hà, còn quan điểm của luật sư?
- Việc thuê xe, mượn xe của nhau không bị pháp luật buộc phải được lập thành văn bản. Do đó, họ có thể thoả thuận cho nhau thuê, cho nhau mượn xe bằng lời nói, bằng hành vi nào đó mà không cần có giấy tờ gì. Chính vì lẽ này, việc yêu cầu phải xuất trình các giấy tờ có liên quan đến việc cho mượn, cho thuê là không phù hợp với quy định của pháp luật.
Khi xử phạt đối với hành vi không chuyển nhượng quyền sở hữu phương tiện theo quy định, người tham gia giao thông phải chứng minh hay người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải chứng minh điều này? Xin được biết ý kiến của luật sư dưới góc độ pháp lý.
- Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính chưa có quy định rõ ai là người phải chứng minh vi phạm hành chính. Tuy nhiên, về nguyên tắc, việc xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực luật công. Và vì vậy, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là người có trách nhiệm chứng minh hành vi vi phạm của người tham gia giao thông.
Người tham gia giao thông có quyền chứng minh mình không vi phạm pháp luật. Trách nhiệm thì buộc phải thực hiện, là quyền thì người ta có thể sử dụng quyền này hoặc không sử dụng đến nó.
Cách hiểu thế này phù hợp với quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 3 Luật Xử phạt vi phạm hành chính (có hiệu lực 1.7.2013) như sau: “Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính”.