Sản Phẩm Trong Giỏ Hàng
  • Bạn chưa có sản phẩm nào trong giỏ hàng
Tổng Hóa Đơn: VNĐ
|
ĐĂNG TIN
 
Đăng tin hoàn toàn miễn phí
 
Quảng cáo liên kết tại RB, EB
 
0% phí khi mua qua Banking/Visa

6 vấn đề quan tâm trong phân phối vật liệu xây dựng

ID tin: 4509749
Cập nhật: 22/06/2017, lúc 18:42 -


vật liệu vun đắp được coi là cầu nối của ngành nghề công nghiệp-xây dựng. sản xuất vật liệu xây dựng hiện mang một số vấn đề cần quan tâm.


Tốc độ tăng sản lượng một số cái VLXD chính yếu năm 2012 so với năm 2005 (lần). Nguồn số liệu: TCTK

Vấn đề thứ nhất, vừa là kết quả tích cực, vừa là vấn đề hiện nay, là tốc độ nâng cao của nguyên liệu xây dựng (VLXD) nhìn chung cao hơn tốc độ tăng giá trị cung cấp của ngành vun đắp.
Theo chậm triển khai, chỉ trừ một đôi chiếc VLXD nâng cao tốt do ko còn thích hợp hoặc đã được thay thế bằng một cái vật liệu khác như
keo dán đá còn đều nâng cao cao hơn tốc độ tăng giá trị phân phối ngành nghề xây dựng. Tốc độ tăng của sản xuất VLXD đã đáp ứng được nhu cầu xây dựng ở trong nước và với một phần được sử dụng để xuất khẩu. Chủng cái, ngoài mặt VLXD đã phổ biến, phong phú hơn, đẹp hơn; chất lượng 1 số chiếc đã được nâng lên.
bên cạnh đó, cũng mang khi sản xuất đã vượt nhu cầu, khối lượng nhập cảng một số loại VLXD cũng còn to, nhất là 1 số nguyên liệu cơ bản như sắt, thép, gạch lát, đồ nội thất và thị trường bất động sản đóng băng kéo dài, đã khiến cho cung vượt cầu, nên lượng tiêu thụ VLXD bị giảm, khiến lượng sản phẩm sản xuất một vài năm nay bị sụt giảm theo. Cụ thể: gạch nung năm 2011 giảm 1,6%; thép cán năm 2011 giảm 3,9%, năm 2012 giảm 5,5%; xi măng năm 2012 giảm 3,1%,…
Vấn đề thứ 2, hầu hết những doanh nghiệp ko khai thác hết năng lực cung ứng, tỷ lệ sử dụng công suất thấp. Theo tấn sĩ nai lưng Văn Huynh, chủ tịch Hội VLXD Việt Nam, tỷ lệ tiêu dùng công suất của kính xây dựng chỉ đạt dưới 50%, vật liệu không nung dưới 55%, gốm sứ dưới 70%, xi măng dưới 80%... trong khi 1 số cơ sở sản xuất VLXD chưa sử dụng hết công suất thì một số hạ tầng mới thành lập không những cung ứng vướng mắc, mà còn bị nặng nợ bởi tài chính xây dựng…
Vấn đề thứ ba can hệ đến quy mô và thiết bị kỹ thuật. bên cạnh một số nhà máy có quy mô lớn, thiết bị kỹ thuật đương đại, thì đầy đủ các nhà máy phân phối VLXD khác mang quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, lãng phí phổ biến vật liệu
ke nhựa ốp lát, tiêu tốn nhiều năng lượng, gây ô nhiễm môi trường, hiệu quả và sức khó khăn có hàng ngoại nhập tốt, khi mà cần lao với giá rẻ hơn, chẳng hề mất mức giá chuyển vận trong khoảng nước ngoài về…
Vấn đề thứ tư là bảo vệ môi trường chưa được đặc thù quan tâm, ko chỉ ở kỹ thuật phí phạm nhiên liệu như trên, mà còn là việc chậm dùng VLXD ko nung thay thế cho gạch xây bằng đất nung, ngói nung… (đến năm 2012 vẫn còn cung cấp đến trên 19 tỷ viên gạch đất nung; 5 tháng 2013 tuy có giảm 2,9% so mang cùng kỳ nhưng vẫn lên đến gần 6,6 tỷ viên; ngói nung năm 2012 vẫn còn sản xuất trên 560 triệu viên). Việc khai thác cát (không chỉ dùng ở trong nước mặc cả xuất khẩu), sỏi, đá cuội… mỗi năm lên tới trên dưới 60 triệu m3, nhưng do việc điều hành chưa phải chăng đã gây sạt lở ngồi không ít vùng.
Vấn đề thứ năm là vấn đề quy hoạch. VLXD là ngành nghề tiêu dùng rộng rãi tài nguyên tự dưng, năng lượng, công đoạn khai thác, sản xuất… dễ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường, nên quy hoạch là vấn đề rất quan trọng. Quy hoạch chung của cả nước chưa đủ chi tiết, quy hoạch ở một số địa phương hoặc chưa với hoặc mang nhưng còn chồng chéo mang quy hoạch của cả nước; mang quy hoạch rồi nhưng chưa tăng trưởng theo quy hoạch.
Vấn đề thứ sáu, trong 5 tháng đầu năm 2013, cung cấp VLXD đại quát đã nâng cao lên với tốc độ cao hơn của toàn ngành nghề (như xi măng tăng 7,4%, thép cán tăng 17,4%, thép thanh, thép góc nâng cao 7,4%...). Điều này có thể là do các nhà cung cấp VLXD nâng cao sản xuất để đón thời cơ lúc ngành nghề vun đắp
ke nhựa cân bằng, thị trường bất động sản mang dấu hiệu khả quan hơn. Đây cũng là điều mừng cho đơn vị và lao động đang làm việc trong những lĩnh vực kể trên. bên cạnh đó, cần quan tâm đến việc tái cơ cấu ngành này trong khoảng quy hoạch, công nghệ, hiệu quả và sức khó khăn để không bị hàng nhập cảng chiếm thị phần.
Tin đăng liên quan